Blog

CÁC THỜI KỲ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ

Thời kỳ phát triển của trẻ

Tính năng chung

Trẻ em không phải là một người lớn thu nhỏ mà là một cơ thể đang lớn lên và phát triển. Từ khi thụ thai đến khi trưởng thành, trẻ em trải qua hai quá trình chính.

Bạn đang xem: Các giai đoạn phát triển của bé

Quá trình tăng trưởng (phát triển số lượng): Do sự gia tăng số lượng và kích thước của tế bào mô.

Quá trình trưởng thành của vật chất (hoàn thiện dần về cấu trúc và chức năng): Do cấu trúc của từng bộ phận thay đổi nên chức năng của tế bào cũng thay đổi.

Quá trình lớn lên và phát triển của trẻ là toàn diện về thể chất, tâm vận động và trải qua nhiều giai đoạn. Mỗi giai đoạn có đặc điểm sinh lý và bệnh lý riêng.

Từ tuổi trưởng thành đến trưởng thành (15-20 tuổi), trẻ em trải qua 6 giai đoạn phát triển: thời kỳ bào thai, thời kỳ sơ sinh; thời kỳ nhũ nhi; thời kỳ rụng lá; thời kỳ dậy thì; giai đoạn dậy thì. Các giai đoạn khác nhau có đặc điểm sinh trưởng và nhu cầu dinh dưỡng khác nhau.

Đặc điểm trẻ em qua các thời kỳ

Thời kỳ bào thai

Từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối, từ khi thụ thai đến khi sinh (trung bình 27015 ngày). Thời kỳ bào thai được chia làm 3 giai đoạn:

Giai đoạn dễ thụ thai: Kéo dài khoảng hai tuần đầu tiên của thai kỳ.

Các giai đoạn phát triển của phôi thai: tuần thứ hai đến tuần thứ tám

Các giai đoạn của thai nhi: từ tuần thứ chín đến khi sinh

*Sự thụ thai và sự phát triển của phôi thai:

Đặc điểm vật lý:

Các giai đoạn hình thành và phân hóa các bộ phận. Hầu hết sự phát triển của các cơ quan chính xảy ra trong vòng 12 tuần đầu tiên. Dị tật bẩm sinh có thể xảy ra nếu có các yếu tố tác động vào giai đoạn phát triển, đặc biệt là thuốc hoặc tia xạ.

Đặc điểm bệnh lý:

3 tháng đầu của thai kỳ là giai đoạn hình thành thai nhi. Nếu có gì đó cản trở sự phát triển của cơ quan trong giai đoạn này thì sau này sẽ không thể sửa chữa được

Trong thời kỳ này, nếu người mẹ bị nhiễm độc tố (thuốc hoặc hóa chất), hoặc nhiễm virus như toxoplasma gondii, rubella, cytomegalovirus, virus herpes simplex thì đứa trẻ sinh ra sẽ bị dị tật bẩm sinh.

p> p>

*Giai đoạn bào thai (tuần thứ 9 của cuộc đời)

Đặc điểm vật lý:

Sau khi hầu hết các cơ quan được hình thành, thời kỳ bào thai dành hoàn toàn cho sự lớn lên và hoàn thiện của các cơ quan. Sau khi nhau thai được hình thành, mẹ cho bé bú trực tiếp qua nhau thai.

+ Khi thai được 13-14 tuần, giới tính thai nhi đã có thể được xác định.

+ 25-28 tuần: Tất cả các cơ quan, bộ phận trong cơ thể đã hoàn thiện, đây là giai đoạn thai nhi phát triển về chiều dài và cân nặng. Từ 3 đến 6 tháng tuổi, em bé phát triển đến 70 phần trăm chiều dài khi sinh.

+ 37-41 tuần: là giai đoạn thai nhi tăng cân. Thai nhi phát triển nhanh chóng, đặc biệt là trong ba tháng cuối của thai kỳ, từ 700g trong tam cá nguyệt thứ hai lên 200g mỗi tuần trong tam cá nguyệt thứ ba.

+ Để sinh con khỏe mạnh thông minh, người mẹ không được ốm vặt, khi mang thai mẹ cần tăng từ 10 -12kg.

Bà mẹ tăng cân:

Mang thai

Quý đầu tiên

Quý hai

Quý thứ ba

Tăng cân (kg)

0-2

3-4

5-6

Một em bé khỏe mạnh được xác định khi có cân nặng khi sinh trung bình là 3000 gram (2500-3500 gram), chiều dài trung bình là 50 cm (48 -52 cm) và không có dị tật bẩm sinh.

Đặc điểm bệnh lý: Thời kỳ này dinh dưỡng của thai nhi được cung cấp bởi người mẹ thông qua nhau thai. Trẻ sơ sinh nhẹ cân và tỷ lệ tử vong cao có nhiều khả năng xảy ra nếu người mẹ bị suy dinh dưỡng hoặc tăng cân kém hoặc có vấn đề về nhau thai. Sinh non dễ xảy ra trong 3 tháng cuối do nhau thai không còn là hàng rào vững chắc để bảo vệ thai nhi.

Thời kỳ sơ sinh: từ khi cắt rốn đến 4 tuần đầu.

Xem thêm: Top 6 mẫu máy làm bánh ốc quế tốt nhất, đáng mua năm 2022!

*Đặc điểm vật lý

Xem thêm: Định nghĩa, phân loại và kỹ năng của nhà quản trị14 phút đọc

Sự chuyển đổi từ sự sống trong tử cung sang sự sống ngoài tử cung buộc trẻ phải thay đổi chức năng của một số cơ quan để thích nghi với sự sống mới như chức năng của cơ quan hô hấp và cơ quan tuần hoàn. Trong các cơ quan, sự thích nghi của phổi là quan trọng nhất. Nhờ hô hấp tốt nên hệ tuần hoàn cũng thích ứng nhanh, hệ thần kinh nhất là vỏ não cũng được hoàn thiện.

Ngay sau khi chào đời, em bé bắt đầu thở bằng phổi và tuần hoàn máu chính thức thay thế tuần hoàn nhau thai. Thích nghi hệ tiêu hóa, gan thận… từ bữa ăn đầu tiên của trẻ.

Trí não của trẻ còn non nớt nên trẻ ngủ 20 tiếng mỗi ngày, do vỏ não luôn trong trạng thái ức chế. Dù ngủ nhiều nhưng chúng vẫn có thể giật mình khi có tiếng động lớn. Đứa trẻ không thể kiểm soát tất cả các cử động và có một số phản ứng hệ thống tự nhiên, chẳng hạn như tăng trương lực nhẹ.

Hệ tiêu hóa: Niêm mạc đường tiêu hóa chưa hoàn thiện, chưa có men tiêu hóa. Thức ăn duy nhất của bé là sữa mẹ hoặc sữa công thức. Trẻ biết bú mẹ từ khi mới sinh. Trẻ không thích uống các chất đắng, chua, cay và rất ngọt, vì vậy không nên cho trẻ uống nước đường, sữa trước khi bú vì trẻ sẽ chê sữa mẹ. Em bé có khả năng ngửi thấy mùi sữa mẹ, để chấp nhận mẹ và tìm vú mẹ.

Cân nặng: trẻ bình thường, trẻ tăng trung bình 15 gam/ngày. Trung bình 1 tháng bé nặng 3500 kg – 4500 kg. Chiều cao: Thêm khoảng 2cm.

*Đặc điểm bệnh lý

Khi trẻ bắt đầu thích nghi với môi trường bên ngoài, nhiều yếu tố có thể cản trở sự thích nghi của trẻ, dẫn đến tỷ lệ tử vong cao trong 24 giờ đầu hoặc tuần đầu sau sinh.

Các bệnh thường gặp:

+ Chấn thương sản khoa: ngạt thở, xuất huyết não, gãy xương.

+ Trẻ sơ sinh bị hạ đường huyết nên bú mẹ càng sớm càng tốt sau khi sinh.

+ Hệ miễn dịch còn non yếu nên trẻ rất dễ mắc các bệnh nhiễm trùng như viêm rốn, phổi, não và nhiễm trùng huyết. Tuy nhiên, do được truyền kháng thể từ mẹ nên trẻ ít mắc các bệnh như sởi, bạch hầu.

Vàng da do tăng bilirubin tự do.

+ Vì vậy, chăm sóc tốt nhất cho trẻ sơ sinh là chăm sóc trước sinh tốt, điều này rất quan trọng để hạn chế đẻ khó, nhiễm trùng nhằm giảm tử vong sơ sinh. Bà mẹ mang thai phải khám thai định kỳ. Vệ sinh cho trẻ, môi trường sống của trẻ sạch sẽ, đủ sữa mẹ.

Trẻ sơ sinh (cho con bú):

Từ 2 tháng đến 12 tháng.

Đặc điểm sinh lý: Trẻ em giai đoạn này lớn rất nhanh.

+ Cân nặng: Trung bình 6 tháng đầu cân nặng của trẻ gấp đôi cân nặng sơ sinh (khoảng 5-6kg) và đến tháng thứ 12 cân nặng gấp 3 lần cân nặng sơ sinh (trung bình 9kg-10kg).

+ Chiều cao: 2 cm mỗi tháng. Đến 12 tháng, trẻ cao gấp rưỡi chiều cao lúc mới sinh (chiều cao trung bình 74 cm – 78 cm)

+ Vòng đầu: tăng thêm 10cm (34+10=44cm). Mô não tăng nhanh đến 75% so với người trưởng thành (900g).

+ Hệ tiêu hóa: Hoàn thiện dần, bắt đầu tiêu hóa tinh bột và các thức ăn khác ngoài sữa khi được 4 tháng. Bé đang mọc răng:

+ công thức tính số răng sữa = tháng – 4.

Lớp mỡ dưới da phát triển mạnh nên trẻ trông mập mạp, do đó trẻ bú mẹ cần năng lượng cao hơn người lớn, chức năng hệ tiêu hóa còn non yếu, men tiêu hóa còn rất kém. Vì vậy, nếu chế độ dinh dưỡng không hợp lý rất dễ mắc các bệnh về hệ tiêu hóa, dẫn đến suy dinh dưỡng. Vì vậy thức ăn tốt nhất là sữa mẹ. Trẻ cần 120 – 130 calo/kg cân nặng mỗi ngày.

Khi cơ thể phát triển khỏe mạnh, trẻ bắt đầu phát triển về tinh thần, trí tuệ và thể thao.

+ Thần kinh: cũng bắt đầu phát triển, trẻ bắt đầu nhận biết đồ vật, khuôn mặt. Tập cười và nói với những người xung quanh, 2 tháng chờ đợi để nói chuyện, 3 tháng cười thành tiếng, nhìn chằm chằm vào những thứ màu đỏ, đen và trắng. 12 tháng biết chỉ tay vào thứ mình thích. Phân biệt giữa khen ngợi và cấm đoán.

+Vận động: Bé tập bò, tập đứng, tập đi. 3 tháng để leo, 8 tháng để leo, 9 tháng để vui, 12 tháng để đi.

+ Ngôn ngữ:

9 tháng tuổi bắt đầu phát âm bà, bố, mẹ.

Có thể phát âm 2 âm trong 12 tháng.

*Đặc điểm bệnh lý: Sau 6 tháng, trẻ dễ bị nhiễm bệnh.

Trẻ dễ bị tiêu chảy cấp, tiêu chảy lâu ngày, nôn trớ, biếng ăn,… do chức năng hệ tiêu hóa chưa hoàn thiện, nhất là những trẻ không được bú sữa mẹ. Rối loạn tiêu hóa ít phổ biến hơn và ít nghiêm trọng hơn ở trẻ bú mẹ so với trẻ bú sữa công thức.

Tăng trưởng nhanh, hệ tiêu hóa kém khiến trẻ dễ bị suy dinh dưỡng, thiếu vitamin, thiếu máu. Ngoài ra, thức ăn nhân tạo thường thiếu các nguyên tố vi lượng và vitamin thiết yếu, sự phân bố các chất không hợp lý.

Trung tâm điều nhiệt và da của trẻ chưa phát triển hoàn thiện, quá trình ức chế và hưng phấn có xu hướng lan rộng nên bất kỳ yếu tố nào có thể gây phản ứng toàn thân đều được nên trẻ dễ bị hạ thân nhiệt, tăng thân nhiệt hoặc co giật do tăng thân nhiệt, Phản ứng não, màng não.

Trong 6 tháng đầu, trẻ ít có khả năng mắc các bệnh nhiễm trùng cấp tính như sởi, bạch hầu… vì kháng thể (igg) truyền từ mẹ sang rau vẫn còn ở trẻ.

Càng về sau, khả năng miễn dịch của trẻ truyền sang mẹ càng giảm, miễn dịch của trẻ còn non nớt nên trẻ dễ mắc các bệnh truyền nhiễm như viêm phổi, viêm màng não, bạch hầu, sởi. Trẻ em thường bị thương do ngã và đang tập đi.

Răng sữa: (trước khi đi học)

Từ 1 đến 6 tuổi. Có thể chia thành 2 giờ:

Độ tuổi mẫu giáo: 1-3 tuổi.

Độ tuổi mẫu giáo: 4-6 tuổi.

Xem thêm: Top 6 mẫu máy làm bánh ốc quế tốt nhất, đáng mua năm 2022!

*Đặc điểm vật lý

Trẻ tiếp tục tăng trưởng và phát triển trong giai đoạn này, nhưng với tốc độ chậm hơn so với giai đoạn trước. Chức năng vận động phát triển nhanh, trẻ bắt đầu biết đi, biết chạy, biết vẽ và biết viết, trẻ tự ăn, biết rửa tay, rửa mặt… Tín hiệu thứ hai là sự phát triển ngôn ngữ. Những đứa trẻ bắt đầu đi học. Trẻ mẫu giáo rất hiếu động. Các cơ phát triển tốt nhưng lực căng của cơ duỗi kém hơn cơ gấp nên không ngồi lâu được.

Cân nặng: Tăng từ 100 gam lên 150 gam mỗi tháng. Tỷ lệ mỡ trong cơ thể thấp nhất so với các nhóm tuổi khác nên trẻ trông gầy.

Chiều cao: tăng thêm 5cm mỗi năm. trẻ 6 tuổi cao 105cm đến 115cm.

Công thức tính chiều cao của trẻ> 1 tuổi: x(cm)=75+5(n-1)

(x=chiều cao; n=tuổi)

Chu vi vòng đầu tương đương người lớn (55cm), độ trưởng thành của mô não đạt 100% so với người trưởng thành.

Hệ tiêu hóa: Hoàn thiện, 8 răng hàm của trẻ đã mọc tốt

Hoạt động: Trẻ tò mò, năng động, ham học hỏi và thích tự mình làm mọi việc. Có những hoạt động giao tiếp, vui hơn cả ăn uống.

*Đặc điểm bệnh lý

có xu hướng ít khuếch tán hơn. Ở độ tuổi này, trẻ cũng dễ bị rối loạn tiêu hóa, còi xương, ốm vặt. Trong giai đoạn này, khả năng miễn dịch thụ động từ mẹ giảm đi rất nhiều nên trẻ hay mắc các bệnh như cúm, ho gà, bạch hầu và thường mắc các bệnh truyền nhiễm do sống tập thể.

Bệnh dị ứng: hen phế quản, mày đay cấp, viêm cầu thận cấp. Trẻ hiếu động nên hay bị tai nạn, thương tích, ngộ độc, bỏng…

Tuổi vị thành niên: tuổi đi học.

Chia thành 2 giai đoạn: tuổi học sinh nhỏ: 7-<12 tuổi; tuổi học sinh lớn: (trước tuổi dậy thì) 12-15 tuổi.

Xem thêm: Top 6 mẫu máy làm bánh ốc quế tốt nhất, đáng mua năm 2022!

*Đặc điểm vật lý

Những đứa trẻ tiếp tục lớn lên, nhưng không nhanh bằng. Răng vĩnh viễn thay thế dần răng sữa. Cấu tạo và chức năng của các cơ quan nguyên vẹn. Trẻ biết tư duy, phán đoán, trí tuệ phát triển.

Cơ bắp bắt đầu phát triển nhưng vẫn gầy.

Dinh dưỡng: Trẻ hay bỏ bữa hoặc ăn quá no, hay ăn quà vặt (bánh kẹo, nước ngọt).

*Đặc điểm bệnh lý

Trẻ dễ bị nhiễm trùng cấp tính do tiếp xúc với môi trường xung quanh. Giai đoạn này hệ xương còn đang phát triển, các dây chằng còn tương đối lỏng lẻo nên trẻ rất dễ bị cong vẹo cột sống, gù lưng… và các bệnh lý khác do tư thế nằm sai.

Bệnh tật ở trẻ em giảm dần. Nếu các bệnh mãn tính không được điều trị hoặc kiểm soát, các biến chứng hoặc di chứng sẽ xảy ra. Các bệnh học đường phổ biến như cong vẹo cột sống, tật khúc xạ…

Tuổi vị thành niên: Từ 15 đến 20

*.Đặc điểm vật lý

Giới hạn độ tuổi trong khoảng thời gian này khác nhau tùy theo giới tính, môi trường và tình trạng kinh tế xã hội. Các cô gái bắt đầu từ 13-14 và kết thúc ở 17-18. Con trai bắt đầu lúc 15-16 và kết thúc lúc 19-20.

Chức năng tuyến sinh dục hoạt động mạnh trong thời gian này, biểu hiện bằng sự xuất hiện các đặc điểm giới tính phụ như vùng mu, mọc lông nách, vú to, bắt đầu hành kinh, em trai bắt đầu thay đổi giọng nói (vỡ tiếng) … tuyến giáp và tuyến yên Và các tuyến nội tiết khác cũng hoạt động rất tích cực.

Chiều cao phát triển nhanh hơn trong những năm đầu đời, cần tận dụng giai đoạn này để tăng chiều cao cho trẻ. Nữ tăng 5-8 cm mỗi năm, nam tăng 5,5-9 cm mỗi năm, sau đó chiều cao tăng chậm. Chiều cao của nữ giới hạn từ 19-21 tuổi, chiều cao nam giới hạn từ 20-25 tuổi.

Công thức áp dụng trọng lượng: x(kg) = 21 + 4(n-10)

(x=cân nặng; n=tuổi)

*Đặc điểm bệnh lý

Trong giai đoạn này, chức năng của hệ thần kinh giao cảm thường không ổn định.

Rối loạn nội tiết, hồi hộp, huyết áp cao, rối loạn thần kinh và rối loạn chức năng nhiều cơ quan khác là phổ biến: thay đổi tâm trạng, suy nghĩ lạc quan nhưng cũng bi quan, bốc đồng…

Về bệnh tật: Trẻ ở giai đoạn này thường ít ốm vặt nhưng tự tử và bệnh tâm thần thường xảy ra nhiều hơn.

Tóm tắt:

Sự lớn lên và phát triển của trẻ em trải qua 2 giai đoạn cơ bản, gồm 6 thời kỳ. Ranh giới giữa các giai đoạn này không rõ ràng mà thường xen kẽ nhau. Ngoài ra, còn có một số yếu tố tác động đáng kể đến sự tăng trưởng và phát triển của trẻ hoặc ảnh hưởng đến biểu hiện bệnh của trẻ như ngoại cảnh, môi trường sống của trẻ,… (yếu tố bên ngoài).

Trẻ em ở mỗi lứa tuổi đều có những đặc điểm tâm sinh lý, bệnh lý riêng, nếu được chăm sóc và nuôi dạy đúng cách thì sức khỏe sẽ rất tốt. Trẻ em cần được gia đình và xã hội quan tâm, nuôi dạy đúng cách. Cách tốt nhất để đánh giá trẻ có đủ dinh dưỡng hay không là theo dõi cân nặng và khám sức khỏe định kỳ hàng tháng của trẻ, có biện pháp can thiệp kịp thời, tránh để lại hậu quả lâu dài.

Vì vậy, nhiệm vụ của nhân viên y tế nhi khoa là phải nắm bắt được đặc điểm của thời kỳ nói trên và tạo điều kiện đảm bảo cho trẻ sinh trưởng và phát triển tốt.

Tài liệu tham khảo

Sách giáo khoa nhi khoa (Khóa học nhi khoa)

Bài giảng Nhi khoa, Bộ môn Nhi, Đại học Y Dược TP.HCM (2000).

Bài giảng Nhi khoa, Nhi khoa Tập 1 – Đại học Y Hà Nội (2006).

Xem thêm: Thai 28 tuần: Sự phát triển của thai nhi và cơ thể mẹ

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button