Blog

Bộ sưu tập Kiếm – Đao của các danh tướng Việt Nam

Đây là chùm ảnh về binh khí (kiếm, đao, đao, cung) của nhiều danh tướng Việt Nam thời phong kiến. Ngoài ra, chúng tôi còn bổ sung thêm một số mẫu dao găm thường dùng trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Nguồn ảnh ăn chặn từ fanpage của dự án game Nam Quân Thần.

Thảo luận về kiếm

Kiếm (kiếm) thuộc loại vũ khí sắc bén được người ta quan tâm nghiên cứu rèn rèn nhất. Cũng là một vũ khí nổi tiếng của người Ngô Việt thời Đại Xuân Thu (722-481 TCN).

Bạn đang xem: Kiếm cổ việt nam

“Kao Gong Ji” ghi lại: “Kiếm Yueyue Zhi, Zhuanhu Qiji, và ngày không có khả năng” (Kiếm Yueyue khắp nơi trên thế giới, và tất cả đều đẹp).

Bên cạnh việc được sử dụng trong chiến tranh, kiếm còn được sử dụng trong các biểu tượng, ví dụ:

1) – biểu tượng quyền lựctrong nước; đó là thượng gươm, được vua ban phép “tử hình” các quan lớn.

2) – Biểu tượng Danh hiệu là triều đình, kiếm, võ kiếm khảm các loại ngọc, vàng bạc tùy theo hạng.

3) – Biểu tượng đẳng cấp trong bang hội; thanh kiếm của học giả.

4) – Ma thuật biểu tượng trong ma thuật, đó là những thanh kiếm Đạo giáo có khả năng trừ tà, diệt quỷ, tàng hình, làm sao không giết được.

Cho đến Vương triều au-le (1428~1527)Da Việt và Triều đại nhà Minh (Ming 1368~1644) bên Trung Quốc, thì Kiếm bao gồm Hai loại: 1. Kiếm thẳng và 2. Kiếm cong (được gọi là Kiếm):

1.loại Kiếm thẳng được chia thành hai loại theo cạnh: loại a thẳng hai lưỡi kiếm có lưỡi sắc bénTheo hình dạng của mũi kiếm cũng chia làm hai loại gọi là Kiếm phong: b) Kiếm kiếm Wushu Kiếm phong: mũi kiếm có hình tam giác. Ngoài ra, kiếm thẳng hai lưỡi còn được chia làm hai loại theo chiều dài của kiếm khôn (kiếm sao chổi) gắn vào chuôi: a) đoản-tuệ; b) miền khôn kiếm. b – loại kiếm nhọn, cũng được chia làm hai loại theo hình dạng của mũi kiếm, được gọi là phong kiếm: a) phong kiếm thẳng; b) lưỡi kiếm nhô lên ( Người Nhật gọi nó là ikari no kissaki). Đây là một thanh kiếm Dai Yue đặc biệt.

2. – Loại kiếm cong (được gọi là kiếm) được chia thành hai loại theo phần cong của lưỡi kiếm: aKiếm cong từ tâm đến mũi kiếm; đây là kiếm của hầu hết các quốc gia; b – loại cong từ trung tâm của lưỡi kiếm là Thanh kiếm cong của hàng rào; đây là một thanh kiếm cong độc đáo của Nhật Bản được gọi là « katana ».

Tổng quan về quy trình kiếm thẳng:

Kiếm thẳng xuất hiện lần đầu tiên vào Đông Chu – Đông Chu (771~246 TCN), được sử dụng làm vũ khí cá nhân và cận chiến – lưỡi xa, phôi thai từ miệng bằng đồng và một con dao ngắn bằng đồng.

Thời Đông Châu – Nhà Đông Chu (771~246 TCN) là thời kỳ của những thanh kiếm bằng đồng, lưỡi thẳng, hai cạnh sắc, chỉ khoảng 40cm chắc >.

Xem thêm: Chậm tiêu uống thuốc gì?

Kiếm hai lưỡi bằng đồng thời Đông Châu (771~246 TCN)

Đến thời Đại Xuân Thu – Thu (722-481 TCN), kiếm được đúc bằng đồng composite, lưỡi thẳng, bản rộng, hai cạnh sắc. Dài gần 60 cm, chủ yếu dùng để cắt gai hơn. Do eu-da-tu (ouye zu) và can-future, đây là thời kỳ thanh kiếm đầu tiên xuất hiện trong lịch sử Viễn Đông. (gan giang gan giang), rèn giũa ngày càng nhiều.

Bộ sưu tập Kiếm - Đao của các danh tướng Việt Nam

Kiếm đồng (dài 0,60 m) hai cạnh sắc, khai quật tại Đông Sơn (Thanh Hóa, Việt Nam) đình thi bởi karlgren: 450~230 av. j.c.

(a và a’: chuôi và các cạnh của khiên; b: mặt cắt ngang của kiếm; c: chuôi; d: đường viền của chắn bùn) – Ngoại thất của louis pageot, 1924. manuel d’archéologie d’extrême-orient, hồ bezacier-

Thời Chiến Quốcthời Tần (221-206 TCN), kiếm được đúc thành dạng trường kiếm, có lưỡi thẳng và hai cạnh sắc, nhưng lưỡi hẹp hơn thời Xuân Thu, vừa chém vừa đâm. Thân kiếm hình bầu dục, có tám lưỡi, sau rút gọn còn sáu lưỡi, có chiều cao 1,40 m. Đây là thời kỳ lịch sử của kiếm hai tay, được gọi là “kiếm hai tay“.

Giai thoạitân thụy hoàng đế phải nhờ người dạy cách tuốt kiếm rút gươm giết anh hùng tuyệt>, chính vì độ dài của thanh kiếm này.

Đến thời Tiền Hán, tức là Thời Tây Hán (206~9 trang), người ta bắt đầu cải tiến quy trình đúc Kiếm có lưỡi hợp kim đồng hợp kim kẽm-crom đồng thời Qiang Shuang-Qin, thanh kiếm sắc béntay cầm với vòng.

Vào Hậu Hán, tức là Đông Hán (23~220cl), người ta bắt đầu sử dụng thép để đúc kiếm >, và thân kiếm có tiết diện hình thoi hình bát giác, sau đó rút gọn thành sáu cạnh, rồi thành tiết diện hình thoi bốn cạnh: hai lưỡi kiếm sắc bén, gọi là nên (lưỡi kiếm), và một sinh mệnh ở mỗi bên được gọi là tic (những đường vân) , người Nhật gọi nó là shinogi.

Bộ sưu tập Kiếm - Đao của các danh tướng Việt Nam

“Dao dài” hai lưỡi bằng thép cuối đời Hán (23~220mm)

Trong triều đại nhà Ti (581~618cl), nghệ thuật rèn kiếm bằng thép Quancang bắt đầu trỗi dậy ở Trung Quốc. Xuất sắc, chỉ đứng sau mérovingiens (500~751 cl) nghệ thuật rèn kiếm ở phía tây.

Thanh kiếm thời

nhà là một thanh kiếm thẳng sắc bén có hai gờ dọc và ngang (mỗi bên một gờ) được gọi là tat ((ridge)- tiếng Nhật gọi là shinogi – nằm gần cạnh sắc, tức là cách xa phần sau của thanh kiếm (người Nhật gọi nó là “kihira zukuri ” Strong>”); vì vậy Thanh kiếm ngôi nhà này rất nặng.

Vào thời nhà Đường (618~907 cl), nghệ thuật đúc kiếm đã đạt đến một đỉnh cao chưa từng có ở phương Đông, và ảnh hưởng của nó lan rộng khắp thế giới—các nước xung quanh đều có chung một nền văn hóa chung, cụ thể là Nhật Bản, Việt Nam, Hàn Quốc và Tây Tạng.

Mãi cho đến thời đại Yoshino (thế kỷ 14) của Nhật Bản, số lượng kiếm tương đương mới được đúc lại, nhưng chúng là kiếm, tức là kiếm, sắc bén hơn nhiều so với kiếm thẳng và dễ sử dụng hơn làm giả.

DuongĐặc điểm của kiếm thời kỳ này là lưỡi thẳng, lưỡi sắc có hai cạnh dọc và ngang (mỗi cạnh một cạnh), gọi là Đa > ((sườn núi) ). Không nặng bằng kiếm nhà và dễ điều khiển hơn.

Xem thêm: Hấp bánh Flan bao nhiêu phút BÍ QUYẾT hấp mịn, không rỗ

Sau này, nhà Đường cũng phát minh ra một thanh kiếm thẳng hai lưỡi, một trong số đó nằm ở một bên của lưỡi kiếm, được gọi là Xiaoshou (cạnh dưới) cạnh sắc ngắn có mũi hướng về phía sau kiếm gọi là 上刀 (mạnh trên).

Tổng quan về nghề thủ công dao rựa:

Loại kiếm cong (gọi là kiếm hoặc kiếm), có cạnh sắc, là loại sau kiếm thẳng.

Kiếm cong của Nhật Bản « Kissaki moroha zukuri tachi – “kogarasu maru – cú nhỏ” » có một cạnh dài sắc bén ở một bên lưỡi kiếm gọi là hạ thu (下) và một cạnh sắc ngắn ở mũi kiếm , Về phía sau của thanh kiếm, được gọi là cạnh trên (cạnh trên) là một minh chứng mạnh mẽ cho việcDynasty sở hữu những thanh kiếm hai lưỡi thẳng một cách thống trị. đường (Don 618~907 cl).

Sau đó, đại đao phát triển thành kiếmkiếm với một cạnh sắc bén. Nó thể hiện rõ ràng cuộc sống thống trị của kiếm thẳng một lưỡi trong Triều đại nhà Đường (Đường 618 ~ 907 cl), và bao gồm hai phần, một phần dựa trên việc sử dụng kiếm hai tay, và cái còn lại dựa trên việc sử dụng kiếm hai tay thành kiếm một lưỡi Kiếm cầm tay:

1) Thanh kiếm mà «Kiếm hai tay» sử dụng:

Đây là loại kiếm được người Nhật nâng lên đến đỉnh cao của nghệ thuật chế tác kiếm, tương đương với kiếm đời Đường (618~907mm).

Bộ sưu tập Kiếm - Đao của các danh tướng Việt Nam

Kiếm Dayue, một thanh kiếm hai tay được sử dụng trong thế kỷ 18 và 19.

Bộ sưu tập Kiếm - Đao của các danh tướng Việt Nam

Ngự lâm cầm trường kiếm (dùng song kiếm) thời Nguyễn (1802-1945)

Bộ sưu tập Kiếm - Đao của các danh tướng Việt Nam

Long kiếm (dùng kiếm hai tay) được tổ chức vào ngày 10 tháng 3 hàng năm tại Đền Đỏ (Đền Thánh Mẫu dong luong) ở làng Xã thái dương sơn thọ, huyện Nghệ An – Thủy, tỉnh Nghệ An.

2) Thanh kiếm được sử dụng bởi «Kiếm một tay»:

Đây là loại dao rựa được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới. Thanh kiếm này còn được gọi là “sword” ở Trung Quốc và “sabre” ở Châu Âu.

Bộ sưu tập Kiếm - Đao của các danh tướng Việt Nam

Kiếm Đại Việt sử dụng theo kiếm một tay Đại Việt – thế kỷ 18~19.

Bộ sưu tập Kiếm - Đao của các danh tướng Việt Nam

«kiếm của đại-Việt» được sử dụng như một loại kiếm một tay với cạnh dài và sắc hướng về phía lưỡi kiếm được gọi là cạnh dưới (hạ cạnh), và cạnh sắc ngắn ở đầu, hướng về phía sau của thanh kiếm . Nó là cạnh trên (dao trên). Đại Việt – thế kỷ 18~19.

Xem thêm: Cách trị đờm cho trẻ sơ sinh giúp sạch cổ họng, bé không còn khò khè

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button